Quan hệ cây trồng và vi sinh vật gây bệnh
Quan hệ cây trồng và vi sinh vật gây bệnh đã được biết từ lâu. Đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố gây bệnh do vi sinh vật tạo ra và cây chủ. Trong đó liên quan giữa sự nhận biết đặc hiệu các yếu tố gây bệnh do vi sinh vật tạo ra và gen đặc hiệu tính kháng bệnh ở cây chủ R (Resistance) gắn liền với một số biểu hiện có tên gọi chung là “siêu mẫn cảm” HR (Hypersentitive responce) như thay đổi dòng vận chuyển ion, sự gia tăng phản ứng oxy hóa, thay đổi biểu hiện của gen và sự chế theo chương trình của tế bào cây chủ.
Các biểu hiện HR sẽ tạo các phân tử đóng vai trò làm chất tín hiệu thứ cấp trong cây chủ là salycilic acid (SA), ethylene và jasmonic acid. Các chất này và các dẫn xuất của chúng sẽ họat hóa hệ thống phòng vệ kháng bệnh ở cây chủ hoặc kích thích làm tăng tính kháng bệnh ở cây chủ thông qua hệ thống cảm ứng kháng bệnh thu được SAR (systemic acquired resistance) gây đáp ứng kháng lại yếu tố gây tổn thương mô ở các mô lành bên cạnh. Cũng theo 2 tác giả này sự kết hợp của HR và SAR liên quan đến biểu hiện của các gen gây tính kháng bệnh ở cây chủ PR (pathogenesis related gene). Thường sản phẩm biểu hiện của các gen này đươc sử dụng làm phân tử đánh dấu trong nghiên cứu bệnh học cây trồng.
Salicylic acid (SA) phân tử tín hiệu quan trọng trong cơ chế kháng bệnh ở cây trồng
White và cs là những người đầu tiên tiến hành xử lý SA và các dẫn xuất của nó (2,6 dichloroisonicotinic acid (INA), benzothiadiazol S-methyl ester (BTH) để cảm ứng làm tăng tính kháng bệnh virus gây bệnh khảm ở cây thuốc lá. Cụ thể là xử lý nói trên thường làm tăng sự biểu hiện của các gen kháng virus, vi khuẩn, oomycete và nấm bệnh ở cả cây một và hai lá mầm. SA thường kích thích tạo chất ức chế quá trình sao chép và khả năng xâm nhập của virus. SA kiểm sóat phản ứng siêu mẫn cảm HR làm chết tế bào, hàm lượng chất chứa các gốc oxy họat động, họat hóa phản ứng peroxide hóa lipid tạo các gốc tự do.
Bằng chứng của SA và dẫn xuất làm tín hiệu nội bào trong phản ứng kháng bệnh ở cây trồng là sự gia tăng hàm lượng SA nội bào ở lá cây thuốc lá kháng virus gây bệnh khảm lá, hàm lượng SA trong dịch phloem cây dưa chuột kháng Colletotrichum lagenarium, Pseudomonas syringae cũng tăng đáng kể.
![]() |
| Hình 1.1. Một số dẫn xuất của salicylic acid |
Thông thường sự gia tăng hàm lượng SA nội bào trong khỏang 5.000-30.000 ng/g sinh khối lá tươi ở nhiều cây một và hai lá mầm. Ơ lúa không thấy có hiện tượng này. Có thể do hàm lượng nội bào SA ở lúa luôn cao hẳn so với ở các cây khác, cao gấp hai lần so với ở Arabidopsis, thuốc lá và lúa mì, đồng thời cũng cao hơn hàm lượng SA nội bào đã xử lý kích thích gây bệnh ở các cây trồng khác.
Bằng chứng bổ sung vai trò của SA trong cơ chế kháng bệnh ở cây trồng là nghiên cứu trên cây thuốc lá và Arabidopsis chuyển gen biểu hiện họat tính phân rã SA và biến đổi nó về catechol. Các cây này không tạo hàm lượng SA nội bào cao khi bị vi sinh vật nhiễm bệnh. Sản phẩm phân rã SA là catechol có tính làm tăng sự phát triển của Pseudomonas syringae gây bệnh ở cây đậu tương
Ức chế tổng hợp SA cũng là một cách tiếp cận khác sử dụng trong nghiên cứu tính kháng bệnh ở cây trồng. Sử dụng 2-aminoindan-2-phosphonic acid, là chất ức chế enzyme phenylalanine ammonia lyase PAL ngăn không cho SA tích lũy đồng thời biến dòng Arabidopsis kháng bệnh thành dòng mẫn cảm bệnh do oomycete Hyaloperonospora parasitica gây ra
Mặc dù vẫn chưa biết hết chi tiết về cơ chế SA làm tăng tính kháng bệnh ở cây trồng, nhưng SA có ảnh hưởng lên họat tính oxidase ở ty thể làm nhiệm vụ khử oxy về đến phân tử nước mà không tạo ATP, cũng như ảnh hưởng lên hàm lượng các gốc chứa oxy họat động ở ty thể. SA cũng gắn với catalase, ascorbate peroxidase, aconitase và carbonic anhydrase ở tế bào lá thuốc lá. Ngòai ra SA cũng ảnh hưởng lên lipid peroxidase, là enzyme có vai trò trong cơ chế kháng bệnh ở cây trồng.
Trao đổi chất SA trong cơ chế kháng bệnh ở cây trồng
Hiện ghi nhận hai con đường tổng hợp SA liên quan đến phản ứng phòng bệnh trong cây trồng. Đã chứng minh ở cây Arabidopsis chuyển gen, SA được tổng hợp theo con đường shikimate và isochorismate là chủ yếu khi cây bị nhiễm bệnh. Có khả năng SA được tổng hợp trong lạp thể .
SA cũng tổng hợp theo đường phenylpropanoid trong tổng hợp phytoalexin, coumarin và lignin bắt đầu từ phenylalanine do enzyme phenylalanine ammonia lyase PAL xúc tác. Người ta cho rằng SA tổng hợp theo con đường isochorismate chủ yếu để ổn định SA khi biểu hiện SAR. Ngược lại SA tổng hợp theo con đường phenylpropanoid liên quan đến cơ chế phòng bệnh theo HR.
Ở cây trồng SA thường tồn tại ở dạng glucosyl hóa. Salycilic acid-beta-glucoside (SAG) là dạng phổ biến nhờ SA glucosyltransferase (SAGT) xúc tác. Ở thuốc lá xử lý SAG cảm ứng kích thích gen PR1 có lẽ thông quan SA giải phóng từ SAG do beta-glucosidase vách tế bào xúc tác. Dẫn xuất methyl-SA tích lũy trong cây khi bị nhiễm bệnh. Người ta cho rằng MeSA là tín hiệu bay hơi lan truyền trong không khí sẽ kích thích cây trồng có phản ứng kháng bệnh. Năm 2003 đã phát hiện thấy enzyme methyltransferase ở Arabidopsis. MeSA bị thủy giải bởi esterase giải phóng SA.
Tổng hợp SA liên quan đến quá trình phát động tính kháng bệnh cây trồng. Các gen SID2, EDS5 và PAL đã được cảm ứng khi cây bị vi sinh vật tấn công. Việc tổng hợp SA được điều hòa ngược (họat hóa hoặc ức chế). Người ta cũng đã biết một số SA receptor có nhiệm vụ gắn với SA thực hiện việc truyền tin. Một số enzyme như catalase, ascorbate peroxidase được coi là protein gắn SA. Một điểm cũng khá thú vị là SA có khả năng gắn enzyme chứa Fe. Có lẽ điều này giải thích mối liên quan giữa hàm lượng SA nội bào và sự tạo thành các gốc chứa oxy họat động RO khi cây bị nhiễm bệnh.
Ở Arabidopsis phát hiện gen NPR1 (non-inducible immunity) và SAI1 (salycilic acid-insentitive 1) tham gia quá trình truyền tín hiệu SA. Đã chứng minh protein npr1 không gắn với SA, do vậy không phải là receptor của SA trong thể hiện SAR. SA cũng ảnh hưởng lên quá trình vận chuyển protein npr1 từ tế bào chất và tích lũy trong nhân tế bào khi cây trồng bị nhiễm bệnh. Bản thân protein npr1 không có khả năng gắn DNA, nhưng có bằng chứng cho thấy nó gắn với nhóm protein TCA gắn DNA trong nghiên cứu hệ thống lai 2 tế bào nấm men.
Bằng phương pháp ghép cành đã chứng minh sự biểu hiện SAR xẩy ra khi có tín hiệu từ mô bị nhiễm tới mô lành thông qua hệ dẫn phloem. Tuy SA có khả năng vận chuyển từ mô bị bệnh đến mô lành, người ta vẫn cho rằng SA không phải là tín hiệu để phát động phản ứng SAR. Nghiên cứu gen dir1 (defective induced resistance 1) ở Arabidopsis cho thấy có mặt dẫn xuất lipid gây cảm ứng SAR. Có thể protein dir1 tham gia trong tổng hợp và vận chuyển dẫn xuất lipid trên trong hệ vận chuyển phloem. Ở thuốc lá thấy có mặt SABP2 (salycilic acid-binding protein 2) cần cho quá trình biểu hiện SAR. Người ta cho rằng npr1 là yếu tố điều hòa vai trò của SA, JA và ethylene trong biểu hiện SAR. Trong đó hình như SA và JA có tác động đối kháng nhau.
| Hình 1.2. Sơ đồ các đường tổng hợp salicylic acid trong cây |
Tổng hợp salicylic acid ở thực vật theo 2 con đường: thông qua isochorismic acid nhờ isochorismate pyruvate lyase (IPL) xúc tác và từ phenylalanine tạo cinnamic acid nhờ phenylalanine ammonia lyase (PAL) xúc tác. Sau đó SA tổng hợp từ benzoic acid, một dẫn xuất từ cinnamic aicd, nhờ benzoic acid 2-hydroxylase (BA2H) xúc tác. SA cũng tổng hợp cũng từ cinnamic acid thông qua o-coumaric acid. Enzyme salicylic acid methyl transferase (SAMT) xúc tác tạo methyl salicylate từ salicylic acid, còn enzyme salicylic acid glucosyl transferase (SAGT) xúc tác phản ứng glycosyl-hóa SA tạo dẫn xuất beta-glucoside.
Định hướng tín hiệu SA làm tăng tính kháng bệnh ở thực vật
SA và các dẫn xuất của nó như INA, BTH ... có khả năng cảm ứng kích thích tính kháng bệnh ở cây trồng. BTH giúp lúa kháng bệnh blast fubgus M. grisea, kháng bệnh downy mildew ở ngô. INA họat hóa kháng powdery mildew ở barley . Các dẫn xuất này cũng thể hiện tác động kể trên ở nhiều cây trồng có giá trị khác. Do vậy nẩy sinh nhu cầu chủ động tạo phản ứng kháng bệnh ở cây trồng bằng cách chế tạo và sử dụng chế phẩm bảo vệ thực vật chứa SA và các dẫn xuất của nó.
Tuy nhiên việc sử dụng các chất trên trong một số trường hợp cũng có hạn chế. Xử lý SA làm giảm năng suất hạt của Arabidopsis, có thể làm lùn cây, làm mất ưu thế chồi ngọn, làm quăn lỏ và giảm hạt nẫy mầm. Ở lúa mì trong một số trường hợp BTH làm giảm năng suất sinh khối, bông và năng suất hạt.
Kết luận:
SA đóng vai trò quan trọng trong cơ chế kháng bệnh của cây trồng. Có hai con đường sinh tổng hợp SA. Gen NPR1 tạo protein npr1, là chất điều hòa tín hiệu SA. Tổng hợp SA được điều hòa ngược dương tính và âm tính. Họat động của SA có liên quan đến họat động của các chất tín hiệu điều hòa khác trong cây trồng. Một trong những nhiệm vụ quan trọng trước mắt là định danh được tín hiệu di động gây hiện tượng SAR. Có thể các dẫn xuất lipid đóng vai trò này.
Cơ sở khoa học của tính phòng kháng bệnh ở thực vật
Theo qua điểm chung sự xâm nhiễm của tác nhân gây bệnh sẽ tạo các chất kích thích (elicitor) trong đó có PAL (phenylalanine ammonia lyase) kích thích sinh tổng hợp salicylic acid (SA) và nhóm protein quan hệ tác nhân gây nhiễm PR protein (pathogenic related protein).
![]() |
| Hình 1.3. Cơ sở khoa học của tính phòng kháng bệnh ở thực vật |
Theo Metraux và cộng sự, sau khi có tương tác giữa ký chủ và ký sinh, hàm lượng O-D-glucosyl salicylate gia tăng nhờ được tổng hợp từ glucose-6P. O-D-glucosyl salicylate sẽ kích thích polyphenoloxidase và peroxidase xúc tác tạo các chất tham gia phản ứng bảo vệ cây chủ. Một trong số đó là phản ứng siêu nhậy cảm HR (hypersensitive reaction). Trong thí nghiệm trên virus khảm lá thuốc lá TMV, salicylic acid (SA) được tổng hợp nhanh chóng chuyển thành những dẫn xuất dạng glucoside hóa, ester hóa và hydroxyl hóa tích tụ chủ yếu xung quanh vết thương. Trong tế bào cây đậu thấy xuất hiện dạng ester hóa của SA với glucose. ở một số cây khác thấy có mặt 2,5- và 2,3- dihydroxybenzoic acid.
Trong lá thuốc lá, cả 2 loại SA nội bào và ngoại bào đều ở dạng SA glucoside khi có sự lây nhiễm TMV. Trong khi ở cây khỏe mạnh hàm lượng SA glucoside là không đáng kể. Đã xác định khoảng 80% hàm lượng SA glucoside tập trung xung quanh vết bệnh do TMV gây ra. Sự hình thành SA glucoside từ SA thường xuất hiện trong tế bào cây chủ khi được xử lý SA xẩy ra đồng thời với sự gia tăng họat tính của enzyme polyphenol oxidase và beta-1,3-glucanase ở lá cây chủ. SA ở dạng tự do thường gây độc ở hàm lượng > 0,1 mM. Trong khi các dẫn xuất của nó ở hàm lượng cao hơn lại an toàn đối với cây chủ. Người ta cũng quan sát thấy các biểu hiện tương tự ở cây chủ liên quan đến tác động của ethylene ngoại bào trong quá trình xử lý các chất nhả chậm ethylene (Ethrel, Gidrel...). Tác động của các chất trên làm biểu hiện hệ thống kháng bệnh ở thực vật. Có 2 cơ chế kháng bệnh xuất hiện khi có sự xâm nhiễm ký sinh: kháng cục bộ và kháng tập nhiễm.
Kháng cục bộ là sự thay đổi cấu trúc hình thái, thay đổi khả năng gây hoại tử liên quan đến sự thải ion K+ từ tế bào, giảm oxyhóa bởi lipidhydroxidase, gia tăng tính độc nhờ tạo phytoalexin, tạo nhóm chất phenol và quinone...
Hệ thống kháng tập nhiễm SAR (Systemic Acquired Resistance) là sự tạo và tích lũy những chất phòng kháng bệnh ở những vị trí khác nơi ký sinh xâm nhiễm. Đó có thể là enzyme hydrolase, PR protein, nhóm peptide defensin, chất ức chế enzyme proteinase, enzyme thủy phân vách tế bào, glycoprotein giàu hydoxyprolin và lignin. Hệ thống SAR liên quan chặt chẽ với tác động của SA.
Hệ thống kháng cảm ứng ISR (Induced Systemic Resistance) ít được nghiên cứu hơn so với SAR. Người ta cho rằng có thể trong ISR không có sự tham gia của SA, nhưng hầu như chắc chắn có liên quan đến jasmonic acid, ethylene, peptide-defensin và các protein ức chế khác.
Jasmonic acid (JA), dẫn xuất methyl ester JA (MeJA) và ethylene được coi là tín hiệu kích thích phản ứng kháng ở thực vật, tham gia điều khiển sự đóng mở khí khổng, tạo ống dẫn, ảnh hưởng lên quá trình hình thành nhóm chất phenol. JA còn kích thích tạo protein osmotin (PR-5), glycoprotein giầu prolin, phytoalexin và các chất ức chế proteinase. Còn peptide-defensin được tổng hợp khi có tín hiệu JA, là peptide giầu cysteine. Người ta coi sự xuất hiện peptide-defensin ở thực vật cũng giống phản ứng miễn dịch ở động vật.
Các yếu tố trên trước tiên sẽ làm thay đổi sự thể hiện của tác nhân NPR1. Sau đó NPR1 sẽ di chuyển từ tế bào chất vào nhân và tương tác với protein TGA (xem hình trên) là yếu tố phiên mã (cũng có thể tương tác với các protein khác có chức năng tương tự) để điều hòa quá trình phiên mã các gen mã hóa protein kháng bệnh.
Đã có dẫn liệu cho thấy sự gia tăng tính kháng bệnh của thực vật đối với một số tác nhân gây bệnh là do sự biểu hiện mạnh của gen NPR1 ở Arabidopsis và lúa. Sự biểu hiện này không liên tục, mà chỉ xuất hiện trong quá trình phát triển phản ứng phòng vệ ở cây chủ. Hiện cây lúa chuyển gen NPR1 đang được khảo nghiệm ở thí nghiệm đồng ruộng.
Ứng dụng chế phẩm tăng tính miễn dịch thực vật trong phòng bệnh nấm ở hồ tiêu
Trên cơ sở trình bầy ở trên, việc xử lý cây trồng SA và các dẫn xuất của nó sẽ có khả năng kích hoạt phản ứng tạo nên phản ứng phòng vệ ở thực vật. Đồng thời kích thích các tế bào bên cạnh chưa bị nhiễm bệnh tổng hợp các chất phòng vệ kháng lại sự xâm nhiễm tiếp theo, giúp hình thành hệ thống kháng tập nhiễm SAR có thời gian tồn tại hàng tuần, thậm chí có thể đến hàng tháng sau khi xử lý. Do vậy đây có thể là một biện pháp hứa hẹn trong phòng trừ bệnh tổng hợp cho cây trồng. Mặc dù cơ chế kích thích tính kháng bệnh này ở thực vật còn những điểm chưa rõ ràng.
Trong thời gian qua Viện sinh học nhiệt đới đã nghiên cứu có kết quả tạo và ứng dụng chế phẩm chứa riêng rẽ SA và dẫn xuất oligochitosan trong việc làm tăng khả năng phòng bệnh của một số cây trồng quan trọng.
Người ta đã chứng minh rằng các phân đọan oligochitosan với độ dài nhất định luôn biểu hiện họat tính sinh học và đã được sử dụng khá rộng rãi trong thực hành y học, trong thực phẩm chức năng, trong mỹ phẩm oligochitosan có thể thu nhận bằng thủy phân hóa học hoặc thủy phân enzyme.
Enzyme lysozyme, lipase, protease, carbohydrase, tannase, một số glycanase đã được khảo sát cho mục đích trên trong môi trường hơi acid PH 3,3-5,5. Trong đó papain là rất phù hợp. Người ta sử dụng papain cố định trên chitin thủy phân chitosan trong đệm acetate, pH 4,0, nhiệt độ 45oC, Sau 24 giờ tách bằng siêu lọc và lọc nano. Kết quả tạo được 3 phân đọan oligochitosan có độ dài và MW lần lượt là 600, 2.000 và 10.000.
Bài viết bởi: Công ty TNHH Ứng dụng Công nghệ sinh học

